TRAN-NHUONG.COM

TRAN-NHUONG.COM


CHA TÔI - HỌA SỸ TRẦN DUY (kì I)

Publié par Trần Yên Nguyên sur 15 Mars 2015, 13:25pm

Catégories : #Bầu bạn góp cổ phần

Tranh Trần Duy

Tranh Trần Duy

Tranh Trần Duy

Tranh Trần Duy

Trần Yên Nguyên

Cha tôi không còn nữa.

Ông đã từ trần hồi 22 giờ 30 ngày 14-3 năm 2014. Sinh thời bố tôi không thích nói không hay về người khác và càng chẳng bao giờ thích tự nói hay về mình. Chẳng biết ở thế giới bên kia bố tôi có giận không khi tôi kể cho bạn đọc nghe chuyện về ông.

 

Họa sĩ Trần Duy – Quê hương – Dòng tộc:

 

Họa sĩ Trần Duy – tên thật là Trần Quang Tăng – sinh 20/6/1920 Tại Thành phố Huế.

  • Tiểu học: Khi bố tôi còn nhỏ do ông nội thuyên chuyển việc làm ở nhiều nơi nên bố tôi cũng đi theo ông nội học tiểu học ở nhiều trường khác nhau.
  • Trung học bố tôi học ở Trường Khải Định nay là trường Quốc học Huế.
  • 1940 Học Trường Mỹ Thuật Đông Dương.
  • 1941 – 1944 Tham gia hoạt động Việt Minh trong tổng hội sinh viên.
  • 1945 Tham gia CM tháng 8 - cướp chính quyền ở Huế.
  • 1946 - 1947 : Phụ trách trinh sát và tuyên truyền ở khu chợ Đồng Xuân - Hà Nội – Là đảng viên Đảng dân chủ - Tham gia Đội quyết tử quân đánh trường bay Gia Lâm.
  • 1947 - 1949: Sau khi tham gia chiến dịch sông lô chuyển về làm Phó phòng địch vận khu X dưới quyền Ông Song Hào. Sau về làm ở báo Vui sống  - Cục Quân Y
  • 1956 – 1957 : Tham gia phong trào Nhân Văn- Giai Phẩm. Làm thư ký tòa soạn báo Nhân Văn, sau đó bị kỷ luật đình chỉ công tác.
  • 1960 - 1963: Ông về làm tại Công Ty Mỹ Thuật Hà Nội.
  • 1964 đến 2014 : Họa sĩ Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam

Với bố tôi, quê hương mơ hồ lắm vì bố đâu có một ngày được sống ở quê hương. Dòng họ Trần Quang quê gốc làng Xuân Yên, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Tổ thứ 4 là ngài Trần Quang Khương rời quê ra Huế nhận chức vệ úy dưới quyền Đô thống chế Tả dinh Lê Văn Duyệt ( Thời vua Gia Long) . Kể từ đó chi chánh họ Trần Quang định cư ở Huế.

Bố tôi được sinh ra và lớn lên ở Huế. Khi tôi còn nhỏ, bố thường kể cho nghe về kinh thành Huế, về con người Huế, về các món ăn của Huế...Ông kể say sưa với tất cả nỗi niềm của người con xa xứ, ông cứ kể hoài, kể mãi nhưng tôi cũng không mường tượng nổi về quê hương mình. Mãi cho tới năm 1998 tôi mới có dịp trở về quê. Ngỡ ngàng trước sự quyến rũ diệu kỳ của quê hương, của sông Hương, núi Ngự, của tháp chùa Thiên Mụ nằm soi bóng bên bờ sông Hương hiền hòa, của kinh thành cổ kính, của các khu lăng mộ thấp thoáng sau rừng thông. Một điều kỳ thú nữa ở Huế mà không nơi nào có được đó là xứ sở của chùa, đến dự các khóa lễ ở chùa Huế ngoài vấn đề tâm linh ta còn như được thưởng thức một giàn nhạc dân tộc, bởi chính ảnh hưởng của nhã nhạc cung đình đã tạo cho chùa Huế một âm hưởng trầm bổng thật tuyệt vời trong các khóa lễ! Ai đã một lần đến Huế thật khó ra khó ra đi mà không hề xao xuyến - quả thật Huế đẹp như một thiên đường.

 Gia phả Dòng tộc Trần Quang chỉ được ghi đến chúng tôi là đời thứ 10 – còn cội nguồn xuất xứ trước nữa không ai rõ.

  • Tổ đời thứ nhất : Ông Trần Quang Vụ, ông Vụ sinh ông Lộc và 3 người con gái.
  • Tổ đời thứ 2: Ông Trần Quang Lộc sinh 3 trai và 3 gái, trong đó ông Luyện là tổ đời thứ 3 chi chánh.
  • Tổ đời thứ 3: Ông Trần Quang Luyện sinh 3 trai 3 gái, trong đó ông Khương là tổ đời thứ 4 chi chánh.
  • Tổ đời thứ 4: Ông Trần Quang Khương (1757 – 1815). Chức vệ úy dưới quyền Đô thống chế Tả dinh Lê Văn Duyệt (Thời vua Gia Long) ông sinh 9 trai 3 gái, trong đó ông Chung là tổ đời thứ 5chi chánh .
  • Tổ đời thứ 5: Ông Trần Quang Chung (1801 – 1866) ông là quan thượng thư đại thần bộ Lễ thời Vua Thiệu Trị - là thầy dậy Vua Tự Đức và các ông Hoàng, bà Chúa trong cung. ông sinh 6 trai 3 gái, trong đó ông Phổ là tổ đời thứ 6 chi chánh.
  • Tổ đời thứ 6: Ông Trần Quang Phổ (1839 – 1887) - chức phân dõng tướng quân văn thần phò mã  - chồng ngài Đồng Phú công chúa con gái thứ 24 của Vua Thiệu Trị. Ông sinh 3 trai 3 gái, trong đó ông Nhuận là tổ đời thứ 7 chi chánh.
  • Tổ đời thứ 7: Ông Trần Quang Nhuận tức Trần Quang Trinh (1863 – 1920) lãnh chức quan Tham tri Bộ Lễ và Thượng thư Bộ Hình. Ông sinh 3 trai 2 gái, trong đó ông Hoàng là tổ đời thứ 8 chi chánh.
  • Tổ đời thứ 8: Ông Trần Quang Hoàng (1901 – 1981) ông sinh 4 trai 1 gái, trong đó ông Trần Quang Tăng là tổ đời thứ 9 chi chánh.

1923 Ông Hoàng là Thừa Phái Huyện Yên Thành, Nghệ An

1925 Tri Huyện Phù Cát, Bình Định

1931 Tri Huyện An Nhơn, Bình Định.

1933 Tri Huyện Hoài Ân, Bình Định.

1934 Lai mục Huyện Tánh Linh, Bình Thuận

1935 về báo Tiếng Dân Huế dưới quyền cụ Huỳnh Thúc Kháng

1939 Thừa phái thế lục sự huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế.

Tháng 8/1945 Ông Hoàng bị bắt giam – 5/1946 được trả tự do và được ông Phạm Văn Đồng đưa về làm Thư ký Ủy Ban Hành Chính Kháng Chiến huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi. Tháng 9/1950 Ông Hoàng bị bom cụt tay phải, nghỉ việc chuyển qua hoạt động Phật giáo.

  • Tổ đời thứ 9: Ông Trần Quang Tăng tức Họa sĩ Trần Duy (1920 – 2014) sinh 4 trai 2 gái, trong đó ông Trần Quang Trung là tổ đời thứ 10 chi chánh.

Ngày miền Nam mới giải phóng, tháng 7/1975, tôi và mẹ về Nha Trang thăm ông bà nội. Khi đó ông bà nội tôi ở 82 – 84 Quốc lộ I Nha Trang. Những lúc không vui bà nội tôi hay nói: “Cái dòng nhà mi là dòng anh em chém giết lẫn nhau, tay mặt chém tay trái nên nghiệp chướng oan khiên, đàn bà dòng họ Trần Quang gập lời nguyền nên không mở mặt ra được bởi rứa đó!”

Tôi nghe bà nói vậy chẳng hiểu gì, cứ bám theo hỏi nội mãi mới biết: Vào thời Vua Gia Long – anh em họ Trần Quang người phò nhà Nguyễn, người theo Tây Sơn. Đến khi Tây Sơn suy yếu và thất thủ Ông Trần Quang Diệu và Bà Đô đốc Bùi Thị Xuân (là con dâu của dòng Trần Quang) bị tru di, voi dày – ngựa xéo – tứ mã phanh thây. Nghe bà con dòng tộc truyền khẩu lại khi Bà Xuân bị hành quyết có nguyền điều chi đó mà mãi cho tới tận ngày nay tất cả phụ nữ dòng họ Trần Quang đều vô cùng bất hạnh đường nhân duyên, cho dù đó là người thông minh, tài giỏi và thành đạt trong sự nghiệp hoặc thương trường.

Bà sơ (ngoài Bắc gọi là cụ) của bố tôi là ngài Đồng Phú Công chúa (1840 – 1915). Hiệu của ngài là Ý Phương tên ngài là Cẩn Thiệu là con gái thứ 24 của Vua Thiệu Trị. Còn bà nội tôi, cụ Tôn Nữ Thu Thư là hậu duệ đời thứ 8 của Chúa Nguyễn Phúc Chu.

Bố tôi kể : Vì dòng dõi cả hai bên nội ngoại của bố đều là con cháu Vương Triều, mà tệ một nỗi ông Hoàng bà Chúa trong cung rãnh rỗi đâu có việc gì để làm ngoài việc đánh bạc. Bố nói : Những thảm họa do cờ bạc mang lại cho dòng tộc, cho gia đình: Mất đất, mất Phủ, gia đình cãi lộn, bất hòa...khiến bố thâm thù người cờ bạc.  Bố tôi không bao giờ đánh bạc, không bao giờ rượu chè say xỉn. Với ông cả cuộc đời chỉ biết cặm cụi làm việc mà thôi.

Năm 2001, hồi tôi còn đang công tác ở Huế, bố tôi có làm giấy ủy quyền và giao cho tôi toàn bộ giấy tờ của Phủ Chúa - để tôi đi trình xin tỉnh can thiệp giúp đỡ. Tôi đã mang toàn bộ giấy tờ đó lên gập ông Nguyễn Văn Mễ chủ tịch tỉnh thừa Thiên Huế trình bầy. Ông Mễ nói: “Chúng tôi có thể xem xét, can thiệp giúp đỡ gia đình chị, Nhưng ngần đó hộ dân đã có sổ đỏ, để đền bù di dời là chuyện rất tốn kém và phức tạp, hơn nữa phải nhờ tần phiền tới nhiều người. Đất ở Huế không đắt, chị bàn lại với gia đình xem hay là mua chỗ đất khác xây dựng lại từ đường có lẽ như thế sẽ tốt hơn ”. Tôi đành vâng: Xin cảm ơn anh. Mà đúng thật. Ông Mễ nói không sai.

Vậy là cả một dòng tộc, Con Vua - Cháu Chúa, Từ đường, Phủ Chúa (gọi là phủ Ông Hoàng ở Kiệt 3 đường Chi Lăng rộng 3568m2 – năm 1975 khi giải phóng vô, người trong phủ bỏ chạy tứ tán,  nên phủ đã bị nhiều hộ dân vô chiếm) chỉ còn là một đống giấy lộn. Tôi vẫn cất giữ giấy tờ đó rất cẩn thận, mà cũng chẳng biết cất để làm gì!

 

Họa sĩ Trần Duy con đường học vấn và sự nghiệp trước cách mạng Tháng 8:

 

Bố tôi học trung học tại Trường Khải Định (nay là trường Quốc học Huế). Khoảng năm 1940 ông ra Hà Nội, thời kỳ đầu định theo các bạn vào học Y, ông có rất nhiều bạn là bác sĩ: Bác sĩ Dương Quang, Bác sĩ Nguyễn Xuân Ty, Bác sĩ Bửu Triều, Bác sĩ Đặng Văn Ngữ ... Nhưng sau đó ông gặp hai người bạn cũ là bác Mai Văn Nam và bác Võ Lăng, Ông đến thăm hai bác đó đang học ở trường Mỹ Thuật, ông thích quá và quyết định xin vô học trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương.

Cậu trai tỉnh lẻ ra thành phố lớn, chân đi dép xỏ ngón đầu đội khăn xếp, thân mặc áo dài the. Hồi mới ra Hà Nội ông ngạc nhiên về cái xe điện lắm. Có lần đang trên xe điện đi cùng người bạn là nhạc sĩ Phạm Duy, xe điện chạy qua khu Bưu điện Bờ Hồ bây giờ thì ông Phạm Duy nói xuống đây đi, đừng về bến nữa. Là người Hà Nội quen với nhẩy tầu nên ông Phạm Duy bước nhẹ xuống đường trong lúc tầu vẫn đang chạy về bến. Ông Trần Duy bước theo. Thế là : khăn xếp lăn một nơi, dép xỏ văng một nơi, áo dài, quần ống xớ rách te tua hết. Lồm cồm giữa lề đường Hà Nội, ông ngượng quá và từ đó bỏ quần ống xớ, bỏ áo dài the, bỏ khăn xếp, bỏ dép xỏ ngón chuyển qua mặc đồ Âu, đi giầy Tây và cạch xe điện luôn. Không có xe đạp thì đi bộ, không bao giờ ông đi xe điện nữa!

Ông kể những năm 1940 – 1945 xã hội lúc bấy giờ có nhiều biến động, loạn lạc lắm. Bên cạnh trường ông học là trại ngựa của Nhật, có lần nhìn qua trại ngựa ông thấy một cảnh tượng kinh hoàng, lính Nhật bắt được một người ăn vụng thức ăn trong máng ăn của ngựa. Chúng đã mổ bụng một con ngựa nhồi người đàn ông còn đang sống rãy rụa vào bụng con ngựa và khâu bụng ngựa lại.

Một lần khác đi qua cầu Long Biên (khi đó chính quyền quy định hướng xe đi qua cầu và về cầu trong một khoảng thời gian nhất định, bố tôi không nhớ chính xác là bao nhiêu phút lại đổi chiều ngược lại). Một chiếc xe kéo tay trên xe có ông khách ra tới giữa cầu thì đúng khoảng thời gian đổi ngược chiều đi, người kéo xe tấp xe và người khách cùng nép vào một bên thành cầu. Một xe lính Nhật chạy chiều ngược lại, ngừng xe, 2 tên lính Nhật xuống xe bước tới nắm lấy cái xe kéo và cả người khách lẫn người kéo xe, chúng quăng tất cả xuống dòng sông Hồng đang chảy siết. Hai người đàn ông không biết bơi rãy rụa một hồi rồi chìm nghỉm.

Có lần bố tôi và bác Lê Thanh Đức lên Sơn Tây để tìm địa điểm in và rải truyền đơn chống Nhật thu thóc thuế thì gập một cảnh tượng dã man, ghê rợn mà mãi mãi không thể nào quên nổi. Bọn Nhật bắt được 05 người nông dân lao vô cướp kho thóc, chúng dẫn giải 05 người đó ra sân kho, bắt mỗi người tự đào 1 cái hố - đất lẫn sỏi đá nên họ đào mãi cái hố cũng chỉ sâu ngang hông. Ngưng đào hố, chúng bắt mỗi người quỳ trước cái hố mình tự đào, lấy thuốc đỏ vạch một đường từ mang tai bên nọ qua mang ai bên kia của họ - rồi chúng dùng kiếm cạo sạch tóc theo vết thuốc đỏ đó, dứ kiếm 3 lần rồi chặt đầu từng người, họ lộn xuống cái hố nông từ bụng trở lên nằm ngoài miệng hố chân rẫy rẫy mãi mới chết hẳn. Chứng kiến cảnh tượng man rợ do phát xít Nhật gây ra cho người Việt, Bố tôi đã quyết định tham ra hoạt động của tổ chức Việt Minh, mặc dầu khi đó ông chẳng hiểu phát xít là gì và chống nó ra sao. Tổ chức bảo chuyển tài liệu thì đi chuyển tài liệu, tổ chức bảo đi rải truyền đơn thì rải truyền đơn, miễn là tham gia được chút sức lực vào công cuộc chống Nhật. 

Năm 1943 bố tôi gập lại một người quen là bác Lê Hữu Kiều, trước là tráng sinh hướng đạo. Một lần bác ấy dắt bố tôi lên đồn điền Hiệp Hòa ở Bắc Giang gập một số sinh viên ở đó, bác Kiều bảo bố tôi nên tham gia vào hoạt động của tổng hội sinh viên vì mình là thanh niên, và thế là năm 1944 bố tôi tham gia phụ trách đường dây liên lạc Hà Nội – Thái Nguyên – Cầu Đuống – Bắc Ninh. Ông chuyển truyền đơn, hay những tờ báo về Hà Nội. Thật ra lúc bấy giờ bố tôi cũng không hiểu hết những nguy hiểm của việc mình làm. Khi đó gia đình ông bà ngoại tôi ở hỏa xa Đông Anh. Vì ông ngoại tôi là Tổng công trình sư đường sắt, nên đi lại bằng đường sắt rất dễ dàng. Bố tôi đi cùng với mẹ tôi (khi đó bà còn rất nhỏ - độ mười bốn, mười lăm tuổi là em gái bạn học - họa sĩ Lê Thanh Đức). Mẹ tôi quen với tụi Nhật đóng trong xưởng máy Đông Anh, nên việc vận chuyển tài liệu về Hà Nội rất xuôi lọt.

Năm 1945 khi Bố tôi còn đang học ở Hà Nội thì cách mạng nổ ra ở Huế. Ông nội tôi làm quan ở Thừa Phủ Huế bị bắt cùng với Ông Bửu Trưng (là bác của bố tôi), ông Phạm Quỳnh và một số người khác nữa, họ bị giam cùng một nơi.

Khi đó cụ Huỳnh Thúc Kháng ra Bắc làm Phó chủ tịch trong Chính phủ Lâm thời. Cụ Huỳnh là bạn của ông nội tôi ( bố tôi vẫn còn giữ được ảnh ông nội tôi chụp chung với cụ Huỳnh). Bố tôi đã đến Phủ Thủ Tướng tìm gập cụ Huỳnh. Cụ Huỳnh viết thư gửi ông Tôn Quang Phiệt là Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên nhờ giúp đỡ. Ông Tôn Quang Phiệt đã xin ý kiến Ông Nguyễn Duy Trinh và 5/1946 ông nội tôi được thả về, những người cùng bị giam thời đó với ông nội tôi: ông Phạm Quỳnh, ông Bửu Trưng... thì sau khi Tây nhẩy dù xuống Phong Điền, tất cả những người đó đều bị chết. Bố tôi rất mừng là đã cứu được cha mình trong tình cảnh đó.

Cách mạng Tháng Tám 1945, ông trở về tham gia cướp chính quyền ở Huế. Ông và ông Từ Chi được ông Nguyễn Duy Trinh giao vẽ cái affiche cách mạng đầu tiên treo bên phía Nam chân cầu Tràng Tiền của thành phố. Một người mẹ trẻ bế con nhìn ra biển, trên đầu là lá cờ đỏ sao vàng lồng lộng.

 

Họa sĩ Trần Duy trong kháng chiến chống pháp:

 

Kháng chiến bùng nổ, khi đó ông đã có tình ý với mẹ tôi, nên ông bỏ Huế ra tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp ở Miền Bắc.

Năm 1946 ông phụ trách trinh sát và tuyên truyền ở khu chợ Đồng Xuân. Sau đó tham gia Đội quyết tử quân đánh trường bay Gia Lâm. Bắt đầu tham gia hoạt động tự vệ Thành Hà Nội bố tôi gặp được ông Hoàng Minh Chính, là Tổng thư ký Đảng Dân Chủ. Ông Chính là người tốt bụng, nghiêm túc, cởi mở nên đã cảm hóa được bố tôi.

  Ông Hoàng Minh Chính rủ bố tôi: “Hay là mày đi tham gia đánh trường bay Gia Lâm đi”. Ừ thì đi! Nhưng cũng chẳng biết phải làm gì và phải đánh như thế nào.

Ông ấy bảo bố tôi: “Bây giờ mày về tổ chức hộ gạo, lên danh sách dân quân và liên lạc với tỉnh ủy Bắc Ninh”. Bố tôi cũng làm theo lời ông Chính chỉ đạo. Khi đánh trường bay Gia Lâm, bố tôi và ông Chính ở trụ sở đặt trên gác của nhà máy cơ khí Gia Lâm để nhìn thẳng vào trường bay. Vì là trận đánh đầu tiên, có lẽ Ông Chính cũng chưa ý thức được rõ ràng về việc chỉ huy (là bố tôi nghĩ như thế). Vì thấy Ông Chính đốt mấy cái pháo thăng thiên làm pháo lệnh. Bên sân bay lính Pháp và lính ngụy thấy pháo lệnh chạy toán loạn. Một hồi lâu sau khi pháo lệnh mà không thấy Việt Minh tấn công, Pháp đã nã pháo sập luôn ngôi nhà bố tôi và ông Chính đang đứng. may mà bố tôi và ông Chính không ai bị thương. Trận đột kích đầu tiên đó thất bại. Trận thứ hai, ông Hoàng Phi là chiến sĩ đầu tiên của ta hy sinh ở trường bay Gia Lâm cùng với một sĩ quan Nhật. Sau đó Trung ương gọi ông Hoàng Minh Chính lên, đưa ông Đặng Viết Châu về thay. Bố tôi đưa khẩu đại bác 75 vào tận trong sân bay, Tây tìm ra được địa điểm và bắn, bố tôi và ông Đặng Viết Châu lại bê khẩu đại bác 75 chạy ra ngoài. Trận cuối cùng bố tôi tưởng ông Hoàng Minh Chính đã chết. Kết thúc trận đánh chúng tôi làm lễ truy điệu anh em đã hy sinh, sau đó Ông Đặng Viết Châu bảo bố tôi đi tìm vợ ông Hoàng Minh Chính để giao lại kỷ vật. Khi đó đơn vị bà Hồng Ngọc đóng tại một đình làng ở Vân Đình. Bố tôi tìm vào gập bà Ngọc và nói: “Anh Hoàng Minh Chính trước khi chết có để tất cả những cái này gửi lại cho chị”. Bố tôi còn nhớ là cái ví với cái bút Shaffer và ảnh bà Hồng Ngọc. bà ấy khóc và nói: “Anh ấy không chết đâu, anh ấy bị thương nằm trong  nhà kia kìa”. Như thế là ông Hoàng Minh Chính còn sống.

Bố tôi vào thăm ông Hoàng Minh Chính xong rồi quay về gặp ông Đặng Viết Châu. Ông Châu giới thiệu bố tôi về Khu X đóng bên sông Lô. Ông Song Hào là Chỉ huy của Khu X nhận và đưa bố tôi về làm Phó phòng địch vận. Ông Song Hào phân công bố tôi phụ trách phần địch vận bằng tiếng Pháp. Ở đó bố tôi phụ trách làm truyền đơn và làm công tác địch vận cùng với 3 người hàng binh dưới quyền chỉ huy của ông Lưu Văn Lợi là các ông:

 Ông Chiến Sĩ (Erwin Borchers tức Chiến Sỹ 1906-1989) là hàng binh người Đức.

 Ông Lê Đức Nhân (Rudy Schröder còn gọi là Kerkhof  1911-1977) là hàng binh người Đức.

 Ông Nguyễn Dân (Ernst Frey 1915-1994) là hàng binh người Áo.

Đó là ba người hàng binh đã đóng góp công sức rất nhiều trong công tác địch vận của ta trong kháng chiến chống Pháp.

Bố tôi kể có hôm bắc loa gọi qua bên kia sông Lô vận động ngụy quân phản chiến. Bên này loa gọi: “ Hỡi các anh em binh sĩ. Hãy quay súng trở về với Tổ Quốc”.

Bên kia lính ngụy trả lời lại: “Tổ Quốc với chẳng tổ cò vì chưng đói bụng nên mò sang đây. Bao giờ bên ấy đánh được Tây. Bên ấy không gọi bên đây cũng về”. Mà đám lính ngụy đó đã nói không sai, họ chỉ vì miếng cơm manh áo mà theo giặc,  khi ta đánh bại thực dân Pháp, hàng binh kéo cờ trắng hàng đoàn trở về với Tổ Quốc.  Họ không hề chống cự.

Năm 1947 Bố tôi về báo Vui Sống  thuộc cục Quân Y dưới quyền ông Từ Giấy. Bố tôi rất ít kể về thời gian này,  có lẽ công việc ở đó không có gì đáng để nhớ để kể. Sau thời gian này ông về Hội Văn Nghệ Việt Nam.

Tôi đã được gặp cố nhà văn Phan Khôi có lẽ là cuối 1955 đầu 1956 ở xưởng vẽ của bố thuê ở 55 Trần Quốc Toản, khi đó chỉ nhớ ông cho tôi cái bút nguyên tử (có lẽ là bút bi) thích lắm cứ hí hoáy vẽ mãi bằng cây bút đó – Nhưng thú thật khi đó còn quá nhỏ nên tôi ít có ấn tượng về Ông, mãi cho tới năm 2007 Bố viết bản thảo đưa tôi đánh máy giúp bố: “Tưởng niệm về nhà văn Phan Khôi” tôi mới biết cụ Phan Khôi có ảnh hưởng rất lớn với bố tôi. Ông vô cùng kính trọng cụ Phan Khôi, bao năm nay bố tôi vẫn đau đáu về nỗi oan khiên của cụ Phan. Bố viết: “Ông Phan Khôi không còn nữa, nỗi oan khuất đời ông vẫn chưa có người giải!”.

Cụ Phan Khôi là người có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời sáng tác nghệ thuật của bố tôi - cố họa sĩ Trần Duy.

Bố tôi viết :

          “Tên ông Phan Khôi tôi được nghe lúc tôi còn học Trung Học Khải Định  Huế. Năm 1947-1948 tên nhà văn Phan Khôi lại đến với tôi trong một hội nghị văn hoá tại Hạ Hoà – Phú Thọ. Tiếp theo là lớp chỉnh huấn tại Việt Bắc.

          Năm 1949 tôi lại được ăn ở cùng lán với nhà văn Phan Khôi tại cây số 7 đường Tuyên Quang – cơ quan của Hội Văn Học Nghệ Thuật.

          Năm 1956 – 1957. Một số anh em văn nghệ sĩ đề nghị nhà văn Phan Khôi giúp họ ra tờ báo Nhân Văn mà ông làm chủ nhiệm, còn tôi làm Thư ký toà soạn.

          Năm 1959 anh Phan Thao báo tin cho tôi:”Bác Phan mất”.Tôi đến hôm liệm bác, anh Phan Thao bỏ giấy đắp mặt và tôi gập Bác lần cuối cùng lúc 10h sáng.

          Trong 5 thời kỳ của một đời người, cũng là 5 thời kỳ tôi được tiếp xúc với một con người mà mọi người đều biết, đều e ngại, đều cảm phục, và cũng là người mà ai cũng xem như một ẩn số cần nghiên cứu và tìm hiểu.

          Tôi không nhằm nghiên cứu về sự nghiệp văn học của ông Phan Khôi, vì vậy hôm nay nếu được trình bầy một vài ý nghĩ về ông Phan Khôi thì cũng chỉ là một vài hoài niệm riêng tư bên lề đời sống của con người ấy mà thôi.

          Vì tôi làm nghề vẽ, nên nhìn người thiên về cái đẹp của sắc diện, do đó tôi nhìn nét mặt Phan Khôi đẹp như một tác phẩm điêu khắc tạc vào đá, như đồng bộ nói lên cái khí tiết, cái cương nghị, cái quắc thước của con người Phan Khôi, nhưng nếu sống gần ông, vẫn thường nghe tiếng chép miệng, thở dài của một tâm hồn nhậy cảm.

          Trong giao tiếp ông là người rất ít nói, nếu cần phải nói thì cũng rất ngắn gọn mà có người không hiểu cho là bẳn gắt, ông ít nói về người thứ ba, nếu phải nói ông thường dùng “ông ấy”, “anh ấy” không mấy khi ông dùng “hắn” hay “nó”.

          Những ngày gập nhau trong lớp chỉnh huấn mọi người trở nên ít nói, không vui đùa. Không khí trở nên nặng nề và dè chừng. Anh Văn Cao đến tìm tôi và nói:

- Cậu nên nói qua về quan hệ gia đình, nếu không người ta cho là cậu dấu thành phần, không thành khẩn thì kết quả học tập sẽ không được tốt.

Ngồi trong số những người nghe, ông Phan Khôi hỏi tôi:

- Hiện anh có còn quan hệ với những người anh vừa kể tên không?”

Tôi trả lời:

- Không!.

Ông Phan Khôi cười:

- Chẳng ai biết ai, thì kể ra cũng chẳng ích gì cho ai.

Tôi hỏi:

- Nhưng nói ra như vậy có sao không?.

Ông trả lời:

“Ngày nào thì ngày ấy lo, biết thế nào để mà lo trước.”

...Tiếp năm ấy có hội nghị văn hoá tổ chức tại Hạ Hoà – Phú Thọ có thuyết trình về truyện Kiều – do đó cần có chân dung Nguyễn Du.

Ông Tố Hữu gọi tôi và bảo tôi vẽ chân dung Nguyễn Du, tôi nói không có tài liệu nào tả về Nguyễn Du để vẽ. Ông Tố Hữu cười và bảo:

- Cứ vẽ một nhà Nho, trí thức, đẹp.

Anh Tú Mỡ đứng cạnh đó nói thêm:

- Nhớ là nhà Nho râu ba chòm.

Trên những hiểu biết ấy tôi lấy giấy bút vẽ chân dung Nguyễn Du.

Tôi nghĩ chắc chắn chẳng có ai để ý đến bức tranh đó, Nhưng tôi đã nhầm - có một người đã để ý đến bức tranh, người ấy là ông Phan Khôi, cuối buổi họp ông Phan Khôi gập và hỏi tôi:

- Anh dựa vào đâu để vẽ Nguyễn Du?

Tôi lúng túng đáp:

- Mọi người bảo cháu vẽ, và chẳng có tài liệu nào cả.

Ông bảo tôi ngồi xuống cạnh ông, rồi ông nói:

- Lời nói gió bay, nhưng viết thành văn, vẽ thành tranh không dối trá được. Đối với một nhân vật lịch sử như vậy mà anh dối trá đến thế thì rất có thể có rất nhiều dối trá kiểu như thế tồn tại trong lịch sử.

Lần đầu tiên có người răn đe tôi về việc làm “hàng nghệ thuật giả.”

Bố tôi trăn trở mãi về lời dạy của cố Nhà Văn Phan Khôi . Nghe theo lời răn dạy đó cả cuộc đời ông nhất định chống đối với những gì không trung thực trong cuộc đời, những gì không trung thực trong nghệ thuật.

Chân dung HS Trần Duy

Chân dung HS Trần Duy

Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :
Commenter cet article

Archives

Nous sommes sociaux !

Articles récents